Nuôi tôm nguyên liệu – “Bệ đỡ” cho ngành xuất khẩu tỷ đô

Mỗi năm ngành tôm Việt Nam mang về gần 5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, Việt Nam hiện đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu tôm, sau Ấn Độ và Ecuador. Để ngành tôm Việt Nam đạt giá trị xuất khẩu và vị thế nói trên, việc phát triển nuôi tôm trong nhiều năm qua đóng vai trò then chốt.

Theo số liệu của Hiệp hội Tôm Việt Nam, người nuôi tôm Việt Nam phải sang Thái Lan và Đài Loan học kỹ thuật nuôi tôm từ khoảng 20 năm trước. Khoảng 10 năm trước, Thái Lan từng đạt sản lượng hơn 1 triệu tấn tôm mỗi năm nhưng 3 năm gần đây chỉ còn khoảng 240.000 tấn/năm. Trong khi đó, sản lượng tôm Việt Nam đã tăng trưởng mạnh trong thời gian đó và hiện đang duy trì sản lượng ở mức trên 1 triệu tấn mỗi năm. Tuy vậy, ngành tôm Việt Nam vẫn đang trong tình trạng thiếu hụt nguồn tôm nguyên liệu so với nhu cầu chế biến xuất khẩu.

Ông Mai Văn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Việt Nam

Hiện giá tôm nguyên liệu trong nước có nhiều thời điểm xuống thấp lại khiến nhiều nông dân không còn mặn mà với nghề nuôi tôm, kéo theo nguy cơ thiếu hụt hơn nữa về tôm nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu trong tương lai.

Trong thời gian qua, nhiều vùng nuôi tôm đang bị chuyển đổi quy hoạch sang bất động sản, du lịch khiến diện tích nuôi tôm ở nhiều địa phương ngày càng thu hẹp.  “Việc diện tích nuôi tôm bị thu hẹp là điều rất nguy hiểm đối với ngành tôm Việt Nam”, ông Mai Văn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Việt Nam nhấn mạnh. Để tháo gỡ khó khăn về tôm nguyên liệu, ông Hoàng cho rằng, trước hết, cần bảo vệ và phát triển vùng nuôi tôm nguyên liệu.

Mặt khác, ngành tôm cần đẩy mạnh chuyển đổi từ nuôi quảng canh sang nuôi thâm canh, ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. Theo ông Mai Văn Hoàng, một hecta nuôi tôm công nghệ cao có thể cho sản lượng cao gấp 6–10 lần so với phương thức nuôi truyền thống.

Mô hình nuôi tôm công nghệ cao của một doanh nghiệp đầu tư vùng nuôi tại Hà Tĩnh

Để phát triển bền vững, ông Hoàng kiến nghị Nhà nước ưu tiên đầu tư hạ tầng vùng nuôi, đặc biệt là hệ thống cấp và thoát nước. Hiện nhiều vùng nuôi vẫn sử dụng hệ thống thủy lợi vốn được thiết kế phục vụ sản xuất lúa, dẫn đến tình trạng nước thải từ ao nuôi này trở thành nguồn cấp cho ao nuôi khác, làm gia tăng nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh.

“Nếu không giữ được môi trường nuôi và đầu tư hạ tầng bài bản thì nguy cơ suy giảm sản lượng tôm trong thời gian tới là rất lớn”, ông Hoàng cảnh báo.

Một vấn đề quan trọng khác là chủ động nguồn giống. Theo ông Hoàng, Việt Nam cần sớm xây dựng trung tâm tôm bố mẹ, trung tâm chọn giống, nghiên cứu di truyền và ngân hàng gen để nâng cao chất lượng con giống, đáp ứng nhu cầu nuôi trồng và xuất khẩu trong dài hạn.

Việt Nam cần sớm chủ động nguồn giống tôm bố mẹ để đáp ứng các nhu cầu trong dài hạn

Đối với thị trường thức ăn tôm, ông Hoàng cho biết hiện có 23 tập đoàn nước ngoài tham gia sản xuất và cung ứng tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh nghiệp và người nuôi, một số sản phẩm công bố hàm lượng đạm trên bao bì không phản ánh đúng chất lượng thực tế. Điều này khiến người nuôi hiểu nhầm về giá trị dinh dưỡng của thức ăn, sử dụng nhưng tôm chậm lớn, chi phí tăng, hiệu quả nuôi giảm, nhiều hộ thua lỗ và phải bỏ ao, làm nguồn cung tôm nguyên liệu ngày càng thiếu hụt.

Từ thực tế trên, Hiệp hội Tôm Việt Nam kiến nghị cơ quan quản lý tăng cường kiểm soát thị trường thức ăn tôm, yêu cầu các doanh nghiệp minh bạch thông tin trên bao bì, công bố rõ chỉ tiêu là “đạm thô” hay “đạm tiêu hóa”. Giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ người nuôi tôm mà còn góp phần tạo lập môi trường cạnh tranh minh bạch, công bằng cho các doanh nghiệp./.

Bài viết liên quan