Không dừng lại ở mục tiêu tăng trưởng kim ngạch, ngành tôm đang tăng tốc chuyển mình theo hướng xanh, hiện đại và bền vững. Đây được xem là chiến lược cốt lõi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu, từng bước hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới.
Chuyển đổi xanh không phải là khẩu hiệu
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), sản lượng thủy sản tháng 7 ước đạt 918,9 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 586,8 nghìn tấn, tăng 6,1%. Tính chung 7 tháng năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 3.579,9 nghìn tấn, tăng 5,8%.
Sản lượng tôm trong tháng 7 tăng so với cùng kỳ năm 2025 do điều kiện thời tiết thuận lợi cho nuôi tôm nước lợ, giá tôm nguyên liệu duy trì ở mức khá, nhu cầu thu mua của các doanh nghiệp chế biến tăng, khuyến khích người nuôi duy trì sản xuất và thu hoạch. Sản lượng tôm thẻ chân trắng ước đạt 142,8 nghìn tấn, tăng 7,8%; sản lượng tôm sú đạt 32,8 nghìn tấn, tăng 3,5%. Tính chung 7 tháng năm 2026, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 637,1 nghìn tấn tăng 9,1%; tôm sú ước đạt 200,4 nghìn tấn, tăng 4,2%.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, tài nguyên thiên nhiên chịu áp lực lớn và thị trường thế giới liên tục nâng cao các tiêu chuẩn môi trường – xã hội – quản trị (ESG), nông nghiệp xanh không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành con đường phát triển tất yếu của ngành thủy sản Việt Nam nói chung, ngành tôm nói riêng. Đối với lĩnh vực nuôi tôm và chế biến tôm xuất khẩu, nông nghiệp xanh chính là chìa khóa để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh, giữ vững thị phần và khẳng định uy tín bền vững trên thị trường toàn cầu.

Xanh hóa ngành tôm ngày càng trở thành yêu cầu tất yếu
Nông nghiệp xanh trong nuôi tôm là mô hình sản xuất hài hòa với môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, kiểm soát rủi ro dịch bệnh và giảm thiểu phát thải. Thay cho cách làm chạy theo sản lượng, ngành tôm đang dịch chuyển sang tối ưu chất lượng – hiệu quả – bền vững lâu dài. Mô hình nuôi tôm xanh không chỉ giúp giảm rủi ro dịch bệnh và chi phí dài hạn, mà còn nâng cao tính ổn định của vùng nguyên liệu, yếu tố sống còn đối với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
Các giải pháp then chốt bao gồm: Giảm sử dụng kháng sinh, hóa chất, ưu tiên chế phẩm sinh học và quản lý dịch bệnh chủ động; ứng dụng công nghệ nuôi tiên tiến như nuôi nhiều giai đoạn, nuôi tuần hoàn (RAS), ao nổi, ao lót bạt, kiểm soát môi trường nước bằng cảm biến và dữ liệu số; tiết kiệm tài nguyên nước, năng lượng, tái sử dụng nước và giảm xả thải ra môi trường tự nhiên; liên kết chuỗi nuôi – chế biến – xuất khẩu, giúp truy xuất nguồn gốc rõ ràng, minh bạch và ổn định chất lượng.
Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, trong khi nhiều quốc gia cạnh tranh bằng quy mô và giá thấp như Ecuador, Ấn Độ, thì tôm Việt Nam có cơ hội đi theo con đường khác: cạnh tranh bằng chất lượng, sự tử tế và tính bền vững. Theo đuổi nông nghiệp xanh sẽ giúp ngành tôm: Vượt qua các rào cản kỹ thuật và môi trường ngày càng khắt khe; nâng cao giá trị gia tăng, không bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh giá; xây dựng niềm tin lâu dài với người tiêu dùng và nhà nhập khẩu quốc tế; bảo vệ sinh kế của người nuôi, ổn định vùng nguyên liệu và gìn giữ hệ sinh thái ven biển. Hay nói một cách khác, trong dài hạn, nông nghiệp xanh chính là nền tảng để ngành tôm Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm rủi ro chuỗi cung ứng và phát triển bền vững.

Ngành tôm hoàn toàn có thể biến nông nghiệp xanh thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi
Nông nghiệp xanh trong nuôi tôm và chế biến tôm xuất khẩu không phải là khẩu hiệu, mà là một quá trình chuyển đổi tư duy và mô hình phát triển. Đó là hành trình từ “làm nhiều” sang “làm đúng”, từ “ngắn hạn” sang “bền vững”, từ “chi phí thấp” sang “giá trị cao”. Với kinh nghiệm, sự linh hoạt và tinh thần đổi mới, ngành tôm hoàn toàn có thể biến nông nghiệp xanh thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi, góp phần khẳng định vị thế của con tôm Việt Nam trên bản đồ thủy sản thế giới, không chỉ hôm nay, mà cho nhiều năm về sau.
Ông Tiến cho biết, hướng tới ngành thủy sản xanh là yêu cầu bắt buộc và không thể đảo ngược với xu thế của thế giới. Năm 2026 sẽ là năm bản lề quan trọng. Vì vậy, với đà tăng trưởng và tâm thế mới, ngành thủy sản sẽ tiếp tục bứt phá, hoàn thành xuất sắc mục tiêu 11,5 tỷ USD, khẳng định vị thế của thủy sản Việt Nam trên trường quốc tế.
Gỡ “điểm nghẽn” để ngành tôm bứt phá
Tại Hội nghị với các hiệp hội ngành hàng về thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng cuối năm 2026 mới đây, ông Mai Văn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Việt Nam, cho biết, ngành tôm tiếp tục giữ vai trò là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam với nhiều tín hiệu tích cực.
Theo ông Hoàng, 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm đạt khoảng 2,3 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 40,5% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Các thị trường xuất khẩu chủ lực như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) và Hàn Quốc tăng trưởng chậm. Trong khi đó, thị trường Trung Quốc ghi nhận nhiều tín hiệu khởi sắc hơn.
Về sản xuất, vụ nuôi chính đạt sản lượng khoảng 700.000 tấn, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tôm thẻ chân trắng đạt gần 500.000 tấn, còn lại là tôm sú và tôm càng xanh. Tuy nhiên, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Việt Nam cho biết, giá tôm thương phẩm đang ở mức thấp nhất trong nhiều năm. Do đó, cần có giải pháp phù hợp để bảo vệ người nuôi tôm – lực lượng tạo sinh kế cho hàng triệu lao động.
Để tạo động lực tăng trưởng cho ngành, Hiệp hội Tôm Việt Nam đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nuôi tôm công nghệ cao. Theo ông Hoàng, mô hình nuôi tôm ao bạt công nghệ cao có năng suất cao gấp 5-10 lần so với ao đất truyền thống, đồng thời có thể nuôi 3-4 vụ mỗi năm, trong khi phương thức cũ chỉ đạt 1-2 vụ. “Cách đây hơn 10 năm, chúng tôi phải sang Đài Loan (Trung Quốc) và Thái Lan học cách nuôi tôm công nghệ cao. Nhưng hiện nay Thái Lan từ quốc gia từng sản xuất hơn 1 triệu tấn tôm mỗi năm nay chỉ còn khoảng 230.000-240.000 tấn, trong khi Việt Nam đã đạt khoảng 1-1,2 triệu tấn mỗi năm”, ông Hoàng chia sẻ. Diện tích nuôi tuy giảm nhưng sản lượng vẫn tăng nhờ ứng dụng công nghệ cao. Vì vậy, theo ông Hoàng, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích nhân rộng mô hình, hỗ trợ chuyển giao công nghệ và nguồn vốn ưu đãi.
Thứ hai, đầu tư đồng bộ hạ tầng cho các vùng nuôi tôm trọng điểm như Cà Mau, Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp…“Nuôi tôm là nuôi nước, nhưng gần 30 năm qua hệ thống thủy lợi tại Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chủ yếu phục vụ sản xuất lúa. Nhiều nơi kênh cấp và kênh thoát nước dùng chung, ao bị dịch bệnh xả nước ra thì ao khác lại lấy vào”, ông Hoàng phân tích. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần xây dựng chương trình đầu tư hoàn chỉnh hệ thống cấp, thoát nước riêng cho vùng nuôi tôm, đồng thời đầu tư điện 3 pha phục vụ nuôi tôm công nghệ cao.

Mô hình nuôi tôm công nghệ cao do doanh nghiệp đầu tư đáp ứng nhu cầu chuyển đổi xanh
Thứ ba, cần tăng cường đầu tư nghiên cứu dịch bệnh, dinh dưỡng và nguồn gen tôm bố mẹ để chủ động nguồn giống trong nước. Mặt khác, yêu cầu các doanh nghiệp minh bạch nguồn gốc tôm nguyên liệu phục vụ chế biến nhằm bảo vệ con tôm Việt Nam. Theo ông Hoàng, ngày 8/6/2026, Quốc hội Hoa Kỳ đã đưa ra Dự luật SHRIMP Act 2026, yêu cầu phát triển phương pháp khoa học xác định quốc gia xuất xứ của tôm nhằm kiểm soát gian lận thương mại, chống khai thác IUU và tăng cường truy xuất nguồn gốc. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần sớm hoàn thiện cơ chế giám sát, minh bạch nguồn gốc tôm nhập khẩu phục vụ chế biến để bảo vệ uy tín của ngành tôm và quyền lợi của hàng triệu hộ nuôi trong nước.
Chủ tịch Hiệp hội Tôm Việt Nam cũng bày tỏ lo ngại về những vướng mắc trong phát triển vùng sản xuất tôm giống. Theo ông Hoàng, khu vực từ Bình Thuận cũ đến Lâm Đồng, đặc biệt dải ven biển từ Cà Ná đến Vĩnh Hảo, là vùng sản xuất tôm giống có chất lượng tốt nhất cả nước. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp sau khi hết thời hạn thuê đất 20 năm vẫn chưa được gia hạn để tiếp tục đầu tư sản xuất.
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) khẳng định, trong cơ cấu ngành thủy sản Việt Nam, tôm giữ vai trò đặc biệt quan trọng, hằng năm đóng góp hơn 45% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành.
Trong thời gian tới, phát triển xanh sẽ là xu hướng tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng giá trị cho sản phẩm tôm Việt Nam giữ vững vị thế trên thị trường thế giới. Thông qua ứng dụng công nghệ tiên tiến, kiểm soát tốt dịch bệnh và đẩy mạnh kinh tế tuần hoàn, ngành tôm nước lợ Việt Nam không chỉ hướng tới tăng trưởng về sản lượng mà còn xây dựng nền sản xuất an toàn, hiệu quả và bền vững.
Nhằm bảo đảm kế hoạch tăng trưởng và xuất khẩu bền vững nghề tôm, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề nghị các địa phương tiếp tục tăng cường năng lực quản lý, rà soát, tính toán lại việc quy hoạch vùng nuôi. Đặc biệt, giải pháp trọng tâm giai đoạn tới là cần chuẩn hóa điều kiện cơ sở, nâng cấp hạ tầng vùng giống, mở rộng vùng an toàn dịch bệnh, kiểm soát kỹ việc lưu thông giống, số hóa truy xuất nguồn gốc…
Cục Thủy sản và Kiểm ngư cũng khuyến khích doanh nghiệp tập trung đầu tư bài bản, có hệ thống theo quy trình tuần hoàn, khép kín, tránh để xảy ra ô nhiễm môi trường, dịch bệnh. Đồng thời cần minh bạch trong sản xuất, vận chuyển, có kỹ năng điều tiết sản xuất theo nhu cầu thị trường./.

